Tuổi Bính Ngọ sanh 1906 và 1966
Bính Ngọ cung Càn, mạng Thủy,
Trực Mãn để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1906, cung phi: Nam cung Tốn, Nữ cung Khôn
Sanh 1966, cung phi: Nam cung Đoài, Nữ cung Cấn.
Bính Ngọ mạng Thủy, cung Càn,
Mạng ta là nước ở sông Giang Hà,
Thu, Đông sanh nhằm tuổi ta,
Đặng mùa Vượng Tướng số ta thanh nhàn.
Xuân, Hạ sanh thiếp với chàng,
Lỗi sanh cực nhọc cơ hàn gian nan.
Nhiều lúc nguy hiểm chẳng an,
Tưởng đâu chết hụt chết oan đã rồi.
Duyên tình lỡ dở lôi thôi.
Đôi nơi nói cưới, tính rồi bỏ qua.
Anh em xung khắc chẳng hòa,
Đi xa thương nhớ, về nhà chẳng yên.
Làm ơn cho bạn phản liền,
Số tuổi bạc phận kết nguyền đệ huynh.
Tuổi ta lại có tánh linh,
Nghi ai thì trúng, thiệt tình chẳng sai.
Nữ nhân tướng mạng lớn thay,
Quyền hành chấp chưởng, lo nay gia đình.
Gặp kẻ ăn nói bất bình,
Giận người lỗ mãng thiệt tình khó dung.
Tướng mạng khẳng khái anh hùng,
Ai mà biết lỗi thì dung tha liền.
Hậu vận cầm đặng của tiền,
Lập nên gia thất, đất điền có ngay.
Tuổi Đinh Mùi sanh 1907 và 1967
Đinh Mùi cung Đoài, mạng Thủy,
Trực Bình để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1907, cung phi: Nam cung Chấn, Nữ cung Chấn
Sanh 1967, cung phi: Nam cung Càn, Nữ cung Ly.
Đinh Mùi mạng Thủy, cung Đoài,
Nước Thiên hà thủy nhỏ hoài như mưa.
Thu, Đông sanh đặng mới vừa,
Giỗ quảy, đám tiệc rước đưa mời hoài.
Xuân, Hạ lỗi sanh chẳng may,
Ăn sau, bưng dọn, họ sai liền liền.
Số mạng tưởng đã quy thiên,
Nhiều lúc nguy hiểm đảo điên gặp hoài.
Không phần làm bạn với ai,
Bạc tiền trợ giúp phản rày lại ta.
Ăn rồi quẹt mỏ như gà,
Khỏi miệng phản phúc họ đà quên ơn.
Buổi đầu cách trở nợ dươn,
Một đời cố gắng giận hờn khắc xung.
Anh em hội hiệp chung cùng,
Gần nhau xích mích ở chung đặng nào.
Tiền bạc như thể chiêm bao,
Nhiều lúc làm khá tốn hao chẳng cầm.
Nhiều khi trách trộm buồn thầm,
Người sao một tuổi họ cầm bạc muôn.
Có tay thương mãi bán buôn,
Giữ cho cần kiệm có thường đủ ăn.
Người đời như thể mặt trăng,
Hết lờ tới tỏ tại căn số phần.
Tuổi Mậu Thân sanh 1908 và 1968
Mậu Thân cung Cấn, mạng Thổ,
Trực Định để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1908, cung phi: Nam cung Khôn, Nữ cung Tốn
Sanh 1968, cung phi: Nam cung Khôn, Nữ cung Khảm.
Mậu Thân cung Cấn tuổi này,
Mạng Thổ là đất bùn lầy chẳng sai.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi sanh thai,
Tỵ, Ngọ sáu tháng dặng nay thanh nhàn.
Thu, Đông sanh gái là nàng,
Mùa Xuân cũng lỗi sanh chàng cực thân.
Tuổi phải chết hụt đôi lần,
Không thì tật bệnh khổ thân sau này.
Số ta quyền tước, thợ thầy,
Tình duyên chồng vợ đổi xây đôi lần.
Anh em thân tộc chẳng gần,
Ai làm nấy hưởng thích thân không màng,
Đầu tiên có của chẳng an,
Nhà cửa nhiều lớp rả tan đổi đời.
Vợ chồng xung khắc chẳng đời,
Nói ra gây gổ chịu thời đắng cay,
Nữ nhân sang số quá tay,
Gặp chồng hiền đức đặng nay cầm quyền.
Gặp chồng mạng lớn phải kiên,
Ít ai ở đặng cho yên trọn đời.
Hậu vạn nhà cửa an nơi,
Dạ ở nhân đức sau thời an thân.
Đừng ở hung dữ như Tần,
Đày mẹ đốt sách, hại dân chôn người.
Tuổi Kỷ Dậu 1909 và 1969
Kỷ Dậu cung Ly, mạng Thổ,
Trực Khai để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1909, cung phi: Nam cung Khảm, Nữ cung Cấn
Sanh 1969, cung phi: Nam cung Tốn, Nữ cung Khôn.
Kỷ Dậu mạng Thổ, cung Ly,
Đại trạch là đất ở thì sa nê.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi chẳng chê,
Tý, Ngọ sáu tháng đặng bề an thân.
Thu, Đông hưu tù phân vân,
Hai mùa làm đặng công thần cũng lo.
Đầu tiên làm có của kho,
Giữ cũng chẳng được đâu cho đặng toàn.
Nhà cửa nhiều lớp rả tan,
Lặn lội đi đủ xa đàng khắp nơi.
Số ta nhờ phước Phật Trời.
Tưởng đâu chết hụt xa thời dương gian.
Anh em xung khắc chẳng an,
Cô bác có của khó toan cậy nhờ.
Thấy mặt giả điếc làm lơ,
Người dưng giúp đỡ không nhờ thích thân.
Số tuổi vô phước xấu phần,
Chơi bạn không tốt nhiều lần phản ta.
Ăn rồi quẹt mỏ như gà,
Bạc tiền trợ giúp sau mà phản ngay.
Vợ chồng cắn đắng thường ngày,
Vắng mặt thương nhớ, gần rày chẳng yên.
Hậu vận cầm đặng của tiền,
Lập nên gia thất mới yên tuổi già.
Tuổi Canh Tuất sanh 1910 cà 1970
Canh Tuất cung Khảm, mạng Kim,
Trực Khai để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1910, cung phi: Nam cung Ly, Nữ cung Càn
Sanh 1970, cung phi: Nam cung Chấn, Nữ cung Chấn.
Canh Tuất cung Khảm rõ ràng,
Mạng Kim xoa xuyến là vàng đeo tay.
Mùa Thu mà đặng sanh thai,
Như tiên giáng thế đặng nay thanh nhàn.
Mùa Hạ, Hỏa khắc chẳng an,
Đông, Xuân cũng lỗi thiếp chàng cực thân.
Thầy thợ, chức tước, công thần,
Lỗi sanh vất vả mười phần chẳng yên.
Nữ nhân tướng mạng chẳng hiền,
Gặp chồng mạng nhỏ phải kiên dạ liền.
Ít kẻ một đời ở yên,
Chữ Canh, chữ Mậu đảo điên nhiều chồng.
Trai thời đôi thứ ba dòng,
Không thì xung khắc long đong chẳng hòa.
Đầu tiên nhiều lớp cửa nhà,
Làm ăn có của ở mà chẳng yên.
Làm ơn cho bạn phản liền,
Ơn đâu không thấy, làm phiền cho ta.
Nhiều lần chết hụt đoán ra,
Bị kẻ vu cáo, vu oan chẳng nhầm.
Lỗi sanh tiền bạc khó cầm,
Hết rồi có nữa nhiều lần chẳng sai,
Thân thích cũng không nhờ ai,
Lập nên gia thất tự tay mình làm.
Tuổi Tân Hợi sanh 1911 và 1971
Tân Hợi cung Khôn, mạng Kim,
Trực Khai để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1911, cung phi: Nam cung Cấn, Nữ cung Đoài
Sanh 1971, cung phi: Nam cung Khôn, Nữ cung Tốn.
Tân Hợi cung Khôn phải rồi,
Mạng Kim xoa xuyến vàng đôi rõ ràng.
Mùa Thu sanh ra thiếp chàng,
Đều đặng sung sướng thanh nhàn lo chi.
Mùa Hạ bị khắc hàn vi,
Đông, Xuân cũng lỗi giàu thì cực thân.
Anh em xích mích nhiều lần,
Ở xa thương nhớ, lại gần khắc xung.
Giận ai nói dữ làm hung,
Không lòng đọc ác hại cùng người ta.
Tuổi sanh nam nữ thật thà,
Ít khi gây sự vậy thì với ai.
Thấy người lỡ bước trái tay.
Bạc tiền giúp đỡ sau này quên ơn.
Số tuổi cách trở tình dươn,
Vợ chồng lỡ dở giận hờn thôi đi.
Nhiều lúc tai nạn hiểm nguy,
Tưởng đâu âm phủ đòi đi đã rồi.
Gặp chuyện rắc rối lôi thôi.
Ngay gian cũng bị kéo lôi giam cầm.
Hậu vận mới đặng an tâm,
Trước khi có của nhiều lần ra tan.
Anh em cô bác giàu sang,
Người dưng giúp đỡ không màng thích thân.
Tuổi Nhâm Tý sanh 1912 và 1972
Nhâm Tý cung Chấn, mạng Mộc,
Trực Phá để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1912, cung phi: Nam cung Đoài, Nữ cung Cấn
Sanh 1972, cung phi: Nam cung Khảm, Nữ cung Cấn.
Nhâm Tý cung Chấn chẳng lầm,
Tang Đố mạng Mộc nuôi tằm cây dâu.
Mùa Thu bi khắc buồn rầu,
Mùa Hạ cũng lỗi lo âu đêm ngày.
Đông, Xuân gặp đặng sanh thai,
Vượng Tướng thong thả ít ai dám bì.
Duyên tình trắc trở trước khi,
Nhiều chỗ nói cưới sau thì bỏ qua.
Gặp tuổi đàn ông, đàn bà,
Cũng đều sang số tuổi ta như vầy.
Quyền tước, nghề nghiệp thợ thầy,
Vợ chồng xung khắc đổi xây đôi đời.
Phải phòng tù tội chẳng chơi,
Khỏi bị chết hụt sa nơi giam cầm.
Anh em bạn hữu phản tâm.
Ăn rồi lấy giáo trở đâm lại mình.
Bụng người cũng có tánh linh,
Hồ nghi thì có thiệt tình chẳng sai.
Đầu tiên làm có của hoài,
Cũng đều tan ra đổi thay gia đình.
Lòng dạ sáng suốt thông minh,
Ai tính mưu kế thì mình biết ngay.
Có tánh nóng nảy chẳng hay,
Gặp người thách đố ta nay không vì.
Tuổi Quý Sửu sanh 1913 và 1973
Quý Sửu cung Tốn, mạng Mộc,
Trực Nguy để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1913, cung phi: Nam cung Càn, Nữ cung Ly
Sanh 1973, cung phi: Nam cung Ly, Nữ cung Càn.
Quý Sửu số tuổi Tốn cung,
Tang Đố mạng Mộc để dùng tằm ăn.
Mùa Thu sanh lỗi khó khăn,
Vận mạng dời đổi có ăn lo hoài.
Mùa Xuân mà đặng sanh thai.
Thanh nhàn sung sướng guốc giày nhổn nhan.
Sanh ra thuở nhỏ gian nan,
Tưởng đâu thế giới đòi sang đi rồi.
Lòng dạ chẳng chịu đổi dời,
Nhỏ thì gian xảo, lớn thời không ham.
Anh em nghèo khổ bao hàm,
Lộc tài lo giúp của đem cho hoài.
Ăn rồi khỏi miệng phản ngay,
Khi ta có việc cậy ai đặng nào.
Giận ai nói dữ hùng hào,
Tánh nóng như lửa đổ vào dầu hôi.
Biết quấy năn nỉ thì thôi,
Giận thì la lối hết rồi bỏ qua.
Đầu tiên nhiều lớp cửa nhà,
Làm có tiền của khiến mà rả tan.
Thích thân giàu có chẳng màng,
Người dưng giúp đỡ xóm làng cậy nương.
Số mạng phải chịu tai tương,
Khỏi lâm tù tội cũng vương giam cầm.
Tuổi Giáp Dần sanh 1914 và 1974
Giáp Dần cung Cấn, mạng Thủy,
Trực Khai để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1914, cung phi: Nam cung Khôn, Nữ cung Khảm
Sanh 1974, cung phi: Nam cung Cấn, Nữ cung Đoài.
Giáp Dần cung Cấn khôn ngoan,
Đại Khê mạng Thủy nước sang chảy hoài.
Thu, Đông mà đặng sanh thai,
Thanh nhàn thong thả hằng ngày sướng thân.
Xuân, Hạ sanh bị khổ bần,
Đêm ngày lo lắng mười phần chẳng an.
Tuổi sanh vận mạng gian nan,
Tưởng đâu âm phủ đòi sang đã rồi,
Duyên tình trắc trở lôi thôi,
Vợ chồng dời đổi vậy thì đôi ba.
Anh em, cha mẹ chẳng hòa,
Ở gần xung khắc đi xa nhớ rày.
Vô phần chơi bạn hôm nay.
Nhiều người phản phúc ít ai thiệt tình.
Bụng người cũng có tánh linh,
Nghi ai thì trúng, thiệt tình chẳng sai.
Nữ nhân chấp chưởng gia tài,
Quyền hành nắm giữ trong ngoài lo âu.
Nam nhân quyền tước công hầu,
Không thầy cũng thợ tóm thâu nhiều nghề.
Lỗi sanh lao khổ tư bề,
Nhà cửa dời đổi xa quê họ hàng.
Tiểu vận làm có rả tan,
Hậu vận tụ của gia đàng ấm no.
Tuổi Ất Mẹo sanh 1915 và 1975
Ất Mẹo cung Ly, mạng Thủy,
Trực Bế để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1915, cung phi: Nam cung Tốn, Nữ cung Khôn
Sanh 1975, cung phi: Nam cung Đoài, Nữ cung Cấn.
Ất Mẹo mạng Thủy cung Ly,
Đại Khê là nước chảy thì thiên nhiên.
Thu, Đông sanh đặng mới yên,
Thanh nhàn sung sướng như tiên hạ trần.
Xuân, Hạ bị lỗi cực thân,
Giàu có làm đặng công thần cũng lo.
Tánh tình ngoan cố khó dò,
Giận ai nói dữ xui cò nhát gan.
Tai nạn có lúc chẳng an,
Khỏi nơi tù tội, bị oan giam cầm.
Tin người, thương bạn phải lầm,
Ăn rồi lấy giáo trở đâm lại mình.
Có tánh sáng dạ thông minh,
Bụng nghi thì có thiệt tình chẳng sai.
Làm ăn tiền bạc có hoài,
Ba chìm bảy nổi đổi thay gia đình.
Anh em chung lộn bất bình,
Ở gần xích mích, trọng khinh chẳng hòa.
Hai dòng anh em, mẹ cha.
Không thì chồng vợ đôi ba đổi dời.
Biết điều phải quấy ở đời,
Ít ai giận ghét, nhiều người thương ta.
Tâm tánh lòng dạ hải hà,
Anh em thiếu sức thì ta giúp liền.
Tuổi Bính Thìn sanh 1916 và 1976
Bính Thìn cung Khảm, mạng Thổ,
Trực Kiên để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1916, cung phi: Nam cung Chấn, Nữ cung Chấn
Sanh 1976, cung phi: Nam cung Càn, Nữ cung Ly.
Bính Thìn cung Khảm sanh ra,
Mạng Thổ cát trắng thiệt là tốt thay.
Mùa Hạ mà đặng sanh thai,
Giàu nghèo cũng sướng, guốc giày nhổn nhan.
Mùa Xuân sanh tuổi thiếp chàng,
Trai thì cực nhọc, gái càng khổ thân.
Anh em thiếu sức ân cần,
Thấy nghèo giúp đỡ nhiều lần phụ ơn.
Tuổi đầu cách trở tình dương,
Nhiều nơi nói cưới như đờn đứt dây.
Không thời chồng vợ đổi xây,
Anh em, cha mẹ ta nay hai dòng.
Số mạng tật bệnh đề phòng,
Lỗi sanh bệnh có ở trong thân hình.
Người ngay phải mắc oan tình,
Giam cầm là nhẹ nghi mình lòng gian.
Phước đức lớn lắm mới an,
Không thời chết hụt chết oan đã rồi.
Giận ai nói dữ một hồi,
Không lòng độc ác giận rồi bỏ qua.
Anh em cha mẹ chẳng hòa,
Cô bác có của thì ta không màng.
Nhiều lớp nhà cửa chẳng an.
Trung niên có của ra tan mấy lần.
Hậu vận mới đặng an thân,
Lập nên gia thất hưởng phần về sau.
Tuổi Đinh Tỵ sanh 1917 và 1977
Đinh Tỵ cung Khôn, mạng Thổ,
Trực Trừ để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1917, cung phi: Nam cung Khôn, Nữ cung Tốn
Sanh 1977, cung phi: Nam cung Khôn, Nữ cung Khảm.
Đinh Tỵ mạng Thổ cung Khôn,
Là đất cát trắng họ đồn chẳng sai.
Mùa Hạ mà đặng sanh thai,
Như tiên giáng thế xuống rày nhân gian.
Thu, Đông Hưu Tù chẳng an,
Mùa Xuân, Mộc khắc thiếp chàng cực thân.
Lỗi sanh cha mẹ chẳng gần,
Ly hương tổ quán tại phần số ta.
Vợ chồng gặp gỡ xứ xa,
Tánh tình ăn nói ai mà chẳng thương.
Thấy ai thất nghiệp lỡ đường,
Tới mà than vãn thì thương giúp liền.
Nhiều lúc làm có của tiền,
Cũng bị tan rả chẳng yên đặng cầm.
Tai nạn nguy hiểm âm thầm,
Khỏi bị chết hụt giam cầm bắt đi.
Ở cho ngay thẳng lo chi,
Rủi bị tai nạn khỏi thì không sao.
Tiền vận số phải lao đao,
Hậu vận tọa hưởng sang giàu an thân.
Anh em thiếu sức ân cần,
Bạc tiền trợ giúp nhiều lần chẳng sai.
Đặng rồi phản phúc theo tay,
Khi ta có việc không ai giúp dùm.
Tuổi Mậu Ngọ sanh 1918 và 1978
Mậu Ngọ cung Chấn, mạng Hỏa,
Thành để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1918, cung phi: Nam cung Khảm, Nữ cung Cấn
Sanh 1978, cung phi: Nam cung Tốn, Nữ cung Khôn.
Mậu Ngọ mạng Hỏa, Chấn cung,
Lửa trời sáng chói soi cùng khắp nơi.
Xuân, Hạ sanh đặng gặp thời,
Thong thả sung sướng an nơi thanh nhàn.
Thu, Đông sanh gái là nàng,
Gia đình lo lắng sanh chàng cực thân.
Anh em xa cách ân cần,
Vắng mặt thương nhớ, ở gần chẳng yên.
Nữ nhân tướng mạng chẳng hiền,
Gặp chồng mạng nhỏ cầm quyền ngoài trong.
Anh em, cha mẹ hai dòng,
Không thì chồng vợ lòng thòng đôi ba.
Thấy ai nghèo khổ xót xa,
Bạc tiền giúp đỡ sau mà phản ngay.
Làm ăn tiền bạc có hoài,
Không đặng giàu lớn cũng rày bậc trung.
Giận ai nói dữ làm hung,
Cũng như Quan Đế Huê Dung tha Tào.
Tánh người trí thức rất cao,
Hồ nghi thì có ai sao biết liền.
Số tuổi sau có đất điền,
Ruộng vườn mua sắm của tiền làm ra.
Tuổi muộn sau trở về già,
Lập nên gia thất cửa nhà ở an.
Tuổi Kỷ Mùi sanh 1919 và 1979
Kỷ Mùi cung Tốn, mạng Hỏa,
Trực Thâu để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1919, cung phi: Nam cung Ly, Nữ cung Càn
Sanh 1979, cung phi: Nam cung Chấn, Nữ cung Chấn.
Kỷ Mùi cung Tốn tuổi ta,
Mạng Hỏa là lửa ở mà thượng thiên.
Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
Xuân, Hạ sanh đặng như tiên xuống trần.
Thu, Đông lỗi số cực thân,
Nghèo giàu cũng khổ tảo tần lo âu.
Tình duyên lỡ dở lần đầu,
Nhiều chỗ nói cười, ngỏ bầu bỏ qua.
Vợ chồng gặp gở xứ xa,
Cách nơi thôn xã mới là an thân.
Anh em, quyến thuộc hương lân,
Tánh tình ăn ở xa gần cũng thương.
Số này lòng dạ hiền lương,
Ít ai bạo ngược Sở vương với Tần.
Mạng phải chết hụt mấy lần,
Nhẹ thì bị bắt giam cầm chẳng an.
Tiền bạc làm có rả tan,
Nhà cửa dời đổi lang thang mấy lần.
Tuổi muộn số mới an thân,
Trung niên lo tảo, chạy tần chưa nên.
Ra dàng thân kẻ bề trên,
Chơi cùng bạn hữu chẳng bền phản ngay.
Làm ăn tiền bạc có hoài,
Nhiều nghề biết đặng ít ai dám bì.
Tuổi Canh Thân sanh 1920 và 1980
Canh Thân cung Khôn, mạng Mộc,
Trực Trừ để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1920, cung phi: Nam cung Cấn, Nữ cung Đoài
Sanh 1980, cung phi: Nam cung Khôn, Nữ cung Tốn.
Canh Thân cung Khôn tuổi chàng,
Mạng Mộc cây lựu rõ ràng đá xanh.
Hạ, Thu lỗi số bất thành,
Nữ nhân tướng mạng quyền hành gia trung.
Nam nhân sanh đặng Đông, Xuân,
Hai mùa Vượng Tướng thung dung thanh nhàn.
Số tuổi chết hụt chết oan,
Không thì tật bệnh vương mang giam cầm.
Rán ở ngay thẳng tu tâm,
Chớ ở gian xảo thánh thần ghét ta.
Canh Thân tuổi gặp đàn bà,
Có chồng mạng nhỏ thì ta cầm quyền.
Nam nữ sang số chẳng hiền,
Vợ chồng cũng thế, nợ duyên đổi dời.
Ít kẻ chồng vợ một đời,
Nếu mà ở đặng, chịu thời đắng cay.
Tiền vận nhà cửa đổi thay,
Nhiều lúc làm khá khiến rày cũng tan.
Hậu vạn tuổi mới đặng an,
Gia đình bền vững chớ than, chớ phiền.
Giận ai nói dữ lòng hiền,
Biết ý năn nỉ có tiền cũng đưa.
Ai mà dịu ngọt thì ưa,
Vật thực chia sớt, đem đưa cho người.
Tuổi Tân Dậu sanh 1921 và 1981
Tân Dậu cung Càn, mạng Mộc,
Trực Mãn để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1921, cung phi: Nam cung Đoài, Nữ cung Cấn
Sanh 1981, cung phi: Nam cung Khảm, Nữ cung Cấn.
Tân Dậu mạng Mộc, cung Càn,
Cây lựu kẻ đá mọc tàng chẳng sai.
Đông, Xuân mà đặng sanh thai,
Trọn đời thong thả đặng nay thanh nhàn.
Hạ, Thu sanh thiếp với chàng,
Giàu nghèo có của muôn ngàn cũng lo.
Anh em thiếu sức hay lo,
Bạc tiền trợ giúp đem cho ăn hoài.
Khỏi miệng phản phúc theo tay,
Làm ơn măc oán kể ai ra gì.
Thiếu nợ hỏi tới sân si,
Hết giận năn nỉ có thì cũng đưa.
Vợ chồng lỡ dở duyên xưa,
Nhiều chỗ coi nói, chẳng vừa bỏ qua.
Tân Dậu tâm tánh thật thà,
Gặp ai nói dữ thì ta nhịn liền.
Nhiều lúc làm có của tiền,
Cũng đều tan ra chẳng yên khó cầm.
Phải phòng tai nạn âm thầm,
Có lúc té nặng, thân lâm tật nguyền.
Tiền vận nhà cửa chẳng yên,
Cất sửa dời đổi hao tiền chẳng an.
Hậu vận đặng hưởng giàu sang,
Gia đình tạo lập ở an lâu dài.
Tuổi Nhâm Tuất sanh 1922 và 1982
Nhâm Tuất cung Đoài, mạng Thủy,
Trực Phá để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1922, cung phi: Nam cung, Càn Nữ cung Ly
Sanh 1982, cung phi: Nam cung Ly, Nữ cung Càn.
Nhâm Tuất mạng Thủy cung Đoài,
Nước ở biển lớn chảy hoài mênh mông.
Tuổi sanh gặp mùa Thu, Đông,
Mạng đặng sung sướng ở không chơi hoài.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi khắc ngay,
Dần, Mẹo sáu tháng đắng cay vô hồi.
Tưởng đâu chết hụt đã rồi,
Nhờ Trời Phật độ thuở hồi ấu niên,
Lớn lên phải giữ, phải kiên,
Số ta té nặng tật nguyền chẳng sai.
Vô phần chơi bạn lâu dài,
Thương người giúp đỡ kể ai ra gì.
Có lúc ta bị lâm nguy,
Thấy thời lánh mặt giả thì ngó lơ.
Nữ nhân duyên nợ ước mơ,
Nằm trong phòng vắng đợi chờ đôi ba.
Nam nhân ít kẻ thật thà,
Nhiều người sang số, tuổi ta hai dòng.
Quyền tước, thầy thợ mới xong,
Nhiều nghề khéo léo ở trong thân mình,
Tiền vận phải chịu linh đinh,
Nhà cửa nhiều lớp kinh dinh đổi dời.
Hậu vận mới đặng an nơi,
Lập nên cơ nghiệp ở thời bền lâu.
Tuổi Quý Hợi sanh 1923 và 1983
Quý Hợi cung Cấn, mạng Thủy.
Trực Nguy để gác đòn dong, thả đòn tay,
Cung Phi dùng cất nhà, xây hướng,
Sanh 1923, cung phi: Nam cung Khôn, Nữ cung Khảm
Sanh 1983, cung phi: Nam cung Cấn, Nữ cung Đoài.
Quý Hợi cung Cấn rõ ràng,
Mạng Thủy nước biển chảy tràn vào sông.
Tuổi sanh gặp mùa Thu, Đông.
Thanh nhàn thong thả gái đồng như trai.
Xuân, Hạ mà bị sanh thai,
Nghèo giàu mệt trí, ít ai thanh nhàn.
Tưởng đâu chết hụt, thác oan,
Mạng lớn qua khỏi vương mang tật nguyền.
Vợ chồng xung khắc chẳng yên,
Có rồi muốn nữa, lưỡng biên gia đình.
Anh em xung khắc bất bình,
Thấy nghèo giúp đỡ thiệt tình thương nhau.
Ở gần ai có ốm đau,
Nghe tin nguy cấp mau mau tới liền.
Miệng nói dữ nhưng lòng hiền,
Biết người phản phúc có tiền cũng đưa.
Trung niên tài lộc có thừa,
Như thể nước đá bị mưa tan lần.
Lắm lúc buôn tảo, bán tần.
Nhà cửa dời đổi nhiều lần chẳng an.
Nhiều nghề biết đặng vẹn toàn.
Tánh tình vui vẻ xóm làng mến thương.
Thi ân tích đức cho thường,
Phật Trời dòm ngó gia đường sẽ nên.
Số mệnh đời người qua từng tuổi ,con người trung quy lại cũng do ý trời đã định sẵn , chỉ còn phụ thuộc vào âm đức của bản thân cố gắng , cộng với âm đức của ông bà tổ tiên để lại ,sẽ quyết định thêm sang hèn , ngoài ra còn cộng thêm yếu tố : thiên địa nhân , có nghĩa là trời , là thiên địa là nơi ta ở có phong thủy tốt hay sấu , nhân là yếu tố con người có thực sự hướng thiện và hành thiện hay không , có xuất phát từ tâm thì với nhận được thiên khí và địa khí tốt , với mong phát tích được sự sang hèn thịnh vượng nhiều đời ..suy cho cùng cổ nhân xưa cũng đã dặn hậu thế : ở đời phúc họa do mình , tu nhân tích đức trời dành phần cho , gặp nguy sẽ được cứa ngay , gặp họa sẽ được phù trì qua cơn .người đời xem đó mà hành thiện với mong nhận được kế quả tốt của cuộc đời này mà tạo hóa sẽ ban cho mỗi người ..
phong thủy Đông Dương :
Bài viết liên quan
Hỗ trợ trực tuyến